Saturday, September 27, 2008

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐÁ

Không phải loại đá nào cũng có độ nguyên khối cao và khai thác dễ dàng - Khai thác đá đen tại An Khê, Bình Định.
Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đá thường bao gồm:

a)    Kích thước khối đá 

b)    Bề mặt đá

c)    Tính thẩm mỹ

A.            Kích thước khối đá 


Mục tiêu đầu tiên của hoạt động khai thác mỏ đá ốp lát là sản xuất đá khối, vì vậy trữ lượng và cấu tạo địa chất là hai yếu tố rất quan trọng. Điều kiện lý tưởng là mỏ có thể sản xuất được các khối đá có kích thước từ 6-8 m3 với kích thước 2,7-3,0m  x  1,8-2,0m  x 1,4-1,6m. Thực tế một số mỏ đá do kết cấu địa tầng có vân, tựa, sọc hoặc kích thước từng viên đá nhỏ (đá basalt) nên không thể có được khối đá lớn lý tưởng để có thể chế biến những láp đá có kích thước 2,8m x 1,8m. Trong trường hợp khác, để tận dụng tối đa tài nguyên thiên nhiên, các mỏ đá còn sản xuất những khối đá có kích thước tận dụng. Đối với các khối đá không có đủ 3 cạnh có kích thước đủ yêu cầu thì có thể cháp nhận 1 cạnh có kích thước nhỏ hơn để có thể chế biến được láp đá đạt yêu cầu. Trong trường hợp khối đá có nhiều cạnh kích thước nhỏ cũng có thể được chấp nhận và thông thường các nhà sản xuất sử dụng cưa đĩa để xẻ đá.








Saturday, September 13, 2008

Một số hình ảnh về ứng dụng của Đá


Publish Post
Đá granite đỏ Bình định và đá marble Thanh hoá ốp tường, chỉ phào tại công trình The Manor

Đá cubic lót sân tại chợ Tân Biên 
Đá granite làm len tường trang trí 
Lavabo rửa tay bằng đá 
Đá Granite ốp lát hồ bơi 

Sunday, August 17, 2008

Một số ứng dụng ốp lát đá trong xây dựng


Đá tự nhiên được sử dụng chính trong các ứng dụng sau:

-       Sử dụng trong ngành xây dựng

-       Nghệ thuật tôn giáo và tín ngưỡng

-       Phục hồi công trình

-       Đồ thủ công mỹ nghệ

-       Điêu khắc

-       Làm mộ…

1.  ỐP LÁT TRONG NHÀ

Đá marble, đá phiến, đá vôi cứng, thạch anh và đá granite thường được sử dụng để ốp cầu thang, nền nhà, lối đi.

2.  ỐP  LÁT NGÒAI TRỜI

Đá xanh, đá granite và một số đá do lửa tạo thành khác có sức bền, chịu đựng được các lọai thời tiết, sức kháng mòn tốt. Chúng ta có thể đối chiếu với phương pháp thử nghiệm trong tài liệu ASTM C-241 về độ chống nứt gãy khi sử dụng đá cho những nơi dành cho người đi bộ. Lọai đá này có the bị trơn trượt khi ướt vì vậy sau đây là một vài phương pháp thường được áp dụng để xử lý: dùng dụng cụ, dùng lửa, dùng cát, natural cleft.

3.  LÁT ĐÁ GRANITE CHO ĐƯỜNG PHỐ (đôi khi đá xanh cũng được sử dụng)

Đá này được sử dụng vì độ kháng mòn và sức chịu đựng thời tiết tốt.

Đá tự nhiên ở ngưỡng cửa, các bệ cao

- Op đá cho lối đi của các trung tâm thương mại, thềm nhà hay nhằm che đi đường thóat nước mà người ta thiết kế cho nước mưa hay nước tuyết tan. Đá hoa cương không trơn thường được chọn để ốp trong trường hợp này.

 Op cho những nơi cần chịu nặng: đá khối, bệ cửa, mái vòm, nhịp cầu thang, khung cửa. Nếu ốp trong nhà thì người ta hay chọn lọai đá chịu lực cao., nếu ốp bên ngòai thì người ta không những chọn lọai đá chịu lực cao mà còn đòi hỏi nó phải ít thấm nước, không nứt gãy cũng như chịu được các lọai thời tiết.

 Op cho những nơi không phải chịu lực: bên ngòai, tường, hiên, cột, mặt dưới mái vòm, chân tường và ngưỡng cửa. Nếu ốp bên trong thì yếu tố thẩm mỹ chi phối việc chọn đá. Nếu ốp bên ngòai thì đòi hỏi lọai đá phải ít thấm nước, độ nứt gãy ít và chịu đựng được thời tiết.







Friday, August 8, 2008

Hình ảnh một số loại đá xây dựng

Đá xanh (Bluestone) - Thanh Hóa 
Đá marble Trắng vân gỗ - Nghệ An
Đá Granite Vân mây - Quảng Ngãi 

Đá Slate - Việt Nam 

Đá cát kết (sa thạch) - Ấn độ 
Đá Onyx Xanh - Pakistan 

Saturday, August 2, 2008

PHÂN LOẠI THƯƠNG MẠI - ĐÁ XÂY DỰNG

1ĐÁ GRANITE

Là lọai đá có kết cấu hạt thô, trung bình, hoặc nhỏ mịn do nham thạch núi lửa tạo thành từ thạch anh, fenspat và mica kết hợp với một số khoáng chất khác. Đá granite đa dạng về màu sắc, độ đồng màu và độ cứng cao, có các màu như hồng, đỏ, xám, xanh lam,  xanh lá cây, nâu, nâu đậm, đen và màu hỗn hợp.

2.  ĐÁ MARBLE

Là lọai đá do quá trình tinh thể hóa biến chất tạo thành từ khóang chất carbon (calcite hoặc dolomit) hay từ xecpentine, có độ bóng cao. Mức độ màu sắc và độ mịn đa dạng. Đá marble được chia làm 4 nhóm:

NHÓM A:

Là nhóm đá cẩm thạch có màu sắc và chất lượng hòan hảo không có lỗi địa chất.

NHÓM B:

Tương tự như nhóm A nhưng chất lượng kém hơn, có lỗi tự nhiên, bị giới hạn về độ bám và độ dính.

NHÓM C:

Nhóm đá có chất lượng không ổn định: lỗi rạn nứt và bị rỗng địa chất, có vân và vết cắt. Đây là một số tiêu chuẩn thực tế nhằm hòan thiện những điểm lỗi này như sử dụng nhựa polyester, phủ expoxy và một số phương pháp khác khi cần.

NHÓM D:

Tương tự như nhóm C nhưng tỉ lệ lỗi tự nhiên cao hơn, chất lượng không ổn định hơn cũng sử dụng phương pháp hòan thiện sản phẩm như trên nhưng đòi hỏi công phu hơn. Nhóm đá marble này có nhiều màu sắc có giá trị cao được dự dụng để trang trí những vị trí quan trọng.

- Đá marble dolomit chứa hơn 40% carbone magiê.

- Đá marble dolomit chứa từ 5%-40% carbone magiê.

- Đá marble travertine- có lớp bị tổ ong

- Đá Xecpentine ( thường gọi là đá da rắn) là lọai đá được tạo thành phần lớn từ khóang chất Xecpentine (thủy hợp silicate magie), màu đá từ xanh cho đến xanh đen, thông thường nó được giả vân bằng cách dùng calcite và với dolomite hoặc magie hoặc kết hợp cả hai.

- Đá Onyx – trong mờ, nhìn chung cấu tạo từ  calxit có tinh thể kín có màu lam, vàng, nâu và xanh lá cây.

3 . ĐÁ CÁT KẾT

Lọai đá trầm tích do cát hạt cát từ mịn đến trung bình kết hợp có tối thiểu 60% silica tự do, mức độ màu sắc từ xám nhẹ cho đến vàng  và nâu. Giá trị thương mại cũng đa dạng:

Đá xanh: Các hạt mịn, dầy, cứng kết thành, màu xám xanh đen hoặc xám xanh lam

Đá nâu: Đá trầm tích do các hạt trung bình, dầy kết thành có màu nâu đen đặc trưng cho đến màu nâu đỏ.

4.  ĐÁ VÔI

Đá trầm tích phần lớn hình thành từ  các hạt calcite, hóa thạch họach các mảnh sò vỡ.

Mức độ màu sắc từ xám nhạt, nâu cho đến nâu nhạt.

5 . ĐÁ XANH

Đá kết cát biến chất mịn, mức độ màu sắc từ bóng xanh da trời, xám, xanh lá, da bò và màu đỏ nhưng bề mặt có các màu ngẫu nhiên như  màu hợp kim, màu vàng, màu nâu.

6.  ĐÁ SLATE

Đá hạt mịn dễ chẻ, màu xám, đen, tím, xanh lá, đỏ và nâu.

7 . ĐÁ PHIẾN

Đá chứa thạch anh feldspar biến chất có một số khóang chất tiêu biểu như mica hoặc chlorit. Lọai đá này dễ dàng chẻ mỏng.

  

Wednesday, May 28, 2008

CÁC LOẠI ĐÁ TỰ NHIÊN (TIẾP)


Trên: Đá biến chất marble trắng Nghệ An 
Dưới: Sơ đồ hình thành đá trầm tích
 2. Đá trầm tích (đá cát kết, đá vôi, travertine) là lọai đá có chủ yếu ở biển hoặc ở hồ hình thành từ xác của các lòai động thực vật lâu năm không phân hủy hay là do sự vận chuyển và lắng đọng của các lọai đá.
Tất cả các loại đất đá khi lộ ra trên mặt đất đều chịu tác động của các nhân tố gió, nước và sinh vật. Kết quả là đá bị phá hủy. Một bộ phận hòa tan tạo thành dung dịch lỏng, bộ phận khác tạo thành những mảnh vụn có kích thước khác nhau. Các mảnh vụn và dung dịch này trôi theo nước mưa, gió... lắng đọng. Đá trầm tích được tạo thành qua quá trình tích tụ của các phần tử trầm tích được không khí, nước đá, các dòng chảy mang đến. Trong quá trình hình thành lớp đá trầm tích, trọng lượng đá tạo nén thành các lớp rắn khác nhau và các chất lỏng ban đầu được chiết xuất ra ngoài.
Đá trầm tích là thông tin quan trọng thể hiện lịch sử trái đất. Nó cung cấp cho chúng ta những hóa thạch của các thực vật và động vật cổ. Thành phần đá trầm tích cho chúng ta thấy được các thành phần nguyên thủy của đá. Sự khác biệt của các lớp trầm tích cũng chỉ ra những thay đổi của môi trường theo thời gian. Đá trầm tích có khả năng giữ được các hóa thạch vì không giống như đá núi lửa hay đá biến chất, nhiệt độ và áp suất trong quá trình lắng đọng không phá hủy phần còn lại của các hóa thạch.
Đá trầm tích phủ trên bề mặt trái đất có diện tích lớn Tuy nhiên tỷ trọng chỉ chiếm khoảng 5% lớp vỏ ngoài. Như vậy lớp đá trầm tích chỉ là một lớp mặt mỏng phủ trên lớp đá núi lửa và đá biến chất.
3 . Đá biến chất (marble, serpentine, onyx, slate, quartzite, gneiss) là các lọai đá hình thành từ đá trầm tích hoặc các lọai đá được tạo thành dưới tác dộng của nhiệt độ cao, áp lực lớn hay do phản ứng hóa học với macma, bị biến đổi mãnh liệt về thành phần, tính chất. Trong các loại đá biến chất, đá marble là loại đá được ứng dụng rộng rãi trong ốp lát và trong ngành xây dựng.
Marble là loại đá được hình thành do sự biến chất của các loại đá vôi, đá carbonate hay đá dolomit. Quá trình biến chất tái tinh thể hóa các loại đá trầm tích này để thành các vân tinh thể đá xen kẽ lẫn nhau. Nhiệt độ và áp suất để hình thành đá marble thường phá hủy toàn bộ các hóa thạch và vân đá nguyên thủy.

Đá marble trắng là kết quả của sự biến hóa các đá vôi có độ tinh khiết rất cao. Những xoáy, vân đá của những đá marble có màu sắc khác nhau là do nhiều loại kháng chất khác nhau hình thành như đất sét, cát, oxit sắt… thường có nguồn gốc là những hạt hay lớp đá trong đá trầm tích.

Tuesday, May 27, 2008

CÁC LOẠI ĐÁ TỰ NHIÊN

Trên: Một góc núi đá Granite đen ở miền Trung 
Dưới: Đá Granite Vàng Bình Định 
Căn cứ theo cấu tạo địa chất của đá, người ta thường phân làm 3 loại đá chính: Đá trầm tích, đá biến chất và đá núi lửa.

1. Đá do núi lửa tạo thành - Còn gọi là đá Igneous  (granite, syenite, diorite, gabbro, andesite và basalt) là lọai đá hình thành từ dòng nham thạch núi lửa phún trào.
Hầu hết các nham thạch được hình thành từ phần trên của lớp vỏ trong của trái đất với nhiệt độ vào khoảng 600 – 1600 oC.
Khi nham thạch nguội đi, các khoáng chất nóng chảy được tinh thể hóa từng phần ở các nhiệt khác nhau. Phần lớn thành phần hóa học của đá bao gồm các chất silicon, oxygen, nhôm, sodium, potassium, calcium, sắt, và magnesium, các chất này kết hợp tại nên khoáng chất silicat.
Đá núi lửa chiếm khoảng 5% lớp vỏ ngoài trái đất nhưng có trữ lượng rất ẩn lớn dưới lớp mỏng các loại đá trầm tích và đá biến chất.